Saturday, April 25, 2009

Tạo tiểu cảnh dưới cầu thang

Lâu nay, mọi người vẫn thường coi gầm cầu thang đơn giản là nơi cất đồ lặt vặt. Nhưng đó chính là vị trí quan trọng của một ngôi nhà, là điểm bắt đầu của giao thông đứng và ngang. Vì vậy, hãy tạo cho không gian đó một dáng vẻ mới nhờ tiểu cảnh.

Chỉ cần tận dụng một phần diện tích nhỏ dưới gầm cầu thang là bạn có thể cảm nhận được một không gian thiên nhiên ngay trong ngôi nhà mình. Tiểu cảnh nhỏ được kết hợp giữa cây xanh, đá, sỏi cuội, thác nước hoặc những yếu tố rất thiên nhiên khác.

Để có thể trồng cây trong tiểu cảnh, bạn nên tạo một gờ nhỏ bằng đá hoặc bằng những hàng rào thấp giả gỗ. Dưới gầm cầu thang thường thấp, vì vậy nên trồng những cây thấp để không chạm vào gầm thang. Cây dưới gầm thang thường là những cây chịu được ánh sáng yếu như đại phú gia, lan bạch chỉ, hồng môn, đỏ môn hay vạn niên thanh...

Bạn cũng có thể trang trí tiểu cảnh bằng những viên đá cuội hoặc sỏi nhỏ với màu trắng, xanh đan xen. Cây xanh trong tiểu cảnh dùng sỏi thường được trồng trong bình rồi lấp sỏi lên. Hiệu quả của cây xanh sẽ rất cao khi màu xanh mềm mại được mọc lên từ những đám sỏi khô cứng.

Tiểu cảnh dưới gầm cầu thang thường được dựa theo tường nhà do đó bạn nên chú ý trang trí cả cho bức tường. Để tạo sự hài hòa với các yếu tố tự nhiên trong tiểu cảnh, nên trang trí bức tường bằng đá tự nhiên.

Để cây trong tiểu cảnh phát triển bình thường, nên lắp kính trên mái để lấy ánh sáng tự nhiên cho cây hấp thụ. Có thể dùng gạch kính hoặc cửa kính để lấy sáng từ ngoài vào nếu bên ngoài thoáng. Còn nếu do điều kiện căn nhà không thể lấy ánh sáng tự nhiên thì bạn nên dùng đèn day-light. Đây là loại đèn tạo ra ánh sáng giống ánh sáng mặt trời giúp cây quang hợp và phát triển bình thường như ở điều kiện ngoài tự nhiên. Bạn cũng có thể trang trí cho tiểu cảnh trong nhà mình thêm phần sinh động bằng những chiếc đèn tạo ra ánh sáng màu, như thế sẽ làm nổi bật tiểu cảnh trong nhà bạn

-->đọc tiếp...

Vườn Nhật trong kiến trúc hiện đại

Trong kiến trúc, vườn Nhật truyền thống được phân thành ba loại gồm vườn trà (Chaniwa), vườn khô (Karesansui), vườn đi dạo (Kaiyushiki). Mỗi loại vườn có một bố cục khác nhau, nhưng đều mang đậm tính "Thiền".
Trong vườn Nhật, đất là vật liệu làm nền cho cho những chất liệu căn bản như đá, nước và cây cối. Những chất liệu thiên nhiên này với những hình dạng khác nhau kết hợp nên khu vườn.

Đá có ý nghĩa quan trọng trong vườn Nhật. Nó như là bộ xương, là nền tảng của khu vườn. Nhiều chất liệu sử dụng trong vườn được thực hiện từ đá như đá giậm bước, móng cầu, tường, thạch đăng lung, thuỷ bồn. Đá được bố trí nằm riêng lẻ hay kết hợp với cây cỏ làm thành phông nền cho khu vườn.

Đá có chức năng phân chia những khu vực trong vườn thành những không gian thân mật, riêng tư. Khi lựa chọn đá cũng cần lưu ý. Giá trị nhất là những tảng đá có hình dạng thanh nhã, kết cấu hấp dẫn, gân đẹp, có vẻ sần sùi già nua và hoàn toàn tự nhiên, nếu có bám rêu và địa y thì càng thêm giá trị.

Đi kèm với đá, nước là một chất liệu thống trị trong vườn Nhật. Một hồ nước nhỏ đơn sơ cũng có thể thể hiện được sinh động nét lung linh, huyền ảo. Những lối đi quanh co cũng góp phần gắn kết khu vườn lại với nhau.

Việc lựa chọn và trồng những cây thích hợp cả về chủng loại và kích cỡ là rất cần thiết. Đối với vườn Nhật thì thiết kế cây trồng có nghĩa bao gồm cả việc định dạng kích thước và hình dáng của từng cây trong khu vườn. Khu vườn càng nhỏ thì yêu cầu càng chặt chẽ.

Giống như sự cân bằng, tính đồng nhất là trọng tâm của nghệ thuật kiến tạo vườn Nhật. Khu vườn phải tạo cho người ngắm một cảm giác đồng nhất, chan hoà và không tách biệt với thiên nhiên. Hình dáng kiến trúc của ngôi nhà và dáng vẻ tự nhiên của khu vườn như hoà quyện được vào nhau. Tính đồng nhất cũng góp phần bổ sung cho khu vườn những dáng vẻ mới, hấp dẫn thể hiện được khoảng không và chỗ kín đáo, sự phù du và vĩnh cửu, sự mềm mại và cứng rắn.

Ở Việt Nam, muốn làm kiểu vườn Nhật cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc như trên. Đối với đá, có rất nhiều chủng loại cho bạn lựa chọn như sỏi cuội to, đá granite, đá thấm thuỷ, đá hộc để trang trí cho khu vườn. Đẹp nhất là sỏi cuội to và đá granite. Ở khu vực nước nên dùng đá thấm thuỷ để tạo điều kiện mọc rêu làm tăng tính tự nhiên cho khu vườn.

Cỏ Nhật được trồng làm nền cho khu vườn. Tuy nhiên, cần lưu ý, cỏ nhật chỉ thích hợp với diện tích rộng và không chịu bóng. Khu vực dưới các tán cây, bàn ghế không nên trồng cỏ nhật vì dễ bị chết. Nên trồng thay thế bằng các loại cỏ tre, rau má, chua me đất… Cây bụi cắt xén có thể trồng các loại như mẫu đơn đỏ, hồng vàng hoặc hoa ngâu. Ngoài ra, có thể điểm thêm các loại cây như hoa sưa, tường vi cho khu vườn thêm sinh động.

Những ngôi nhà với đường nét kiến trúc đơn giản, hài hoà rất phù hợp với phong cách của vườn Nhật. Bản thân gia chủ cũng là người trọng sự giản dị, thanh cao và triết lý thì mới có thể yêu nét đơn sơ của vườn Nhật. Làm vườn Nhật không cần diện tích rộng nhưng muốn đẹp đòi hỏi phải có sự tư vấn của kiến trúc sư hoặc có bàn tay chuyên nghiệp của người làm vườn chứ không thể là của những người nghiệp dư.

-->đọc tiếp...

Saturday, April 18, 2009

Tre trong trang trí nhà phố

Nơi đô thị không thiếu bêtông, kính, sắt, thép… Vì vậy, đôi khi bạn muốn làm mềm đi không gian nội thất của mình để tạo cảm giác thoải mái nhưng cũng không kém phần sang trọng. Thật đơn giản nếu bạn kết hợp nội thất với tre – một đại diện của sự dân dã, nhẹ nhàng.




Mành tre, vách tre,… thật đơn giản nhưng tạo cho không gian nhà bạn một sức sống mới. Với hình dáng mộc mạc, đôi khi khẳng khiu nhưng ngôi nhà bạn rất gần gũi với thiên nhiên.

Một bức vách tre đặt hờ, bên cạnh là bình hoa cắm những búp sen hồng, vẻ mềm mại uyển chuyển của sen kết hợp dáng thẳng nhưng mảnh mai của tre bất ngờ tạo ra một khoảng không gian thật Việt.

Bạn có thể sử dụng toàn bộ thân tre với dáng nguyên sơ của nó để trồng trước nhà, hoặc những thân tre đã qua gọt giũa một phần, tất cả dường như làm nới rộng không gian chật hẹp nơi phố thị, tạo cảm giác thoải mái.

Bạn có thể bắt gặp hình ảnh tre ở bất cứ nơi nào trong nhà, từ phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, dưới chân cầu thang, giếng trời… nhưng không nơi nào làm bạn nhàm chán, bởi chính hình ảnh của chúng đã đem đến cho bạn sự an lành, như được sống, được nghỉ ngơi ở nhà quê thật sự thư giãn.

Tre vàng, tre xanh, tre khẳng khiu hay đầy đặn một chút… đều mang đến cho bạn hình bóng thiên nhiên, mang hơi thở dung dị đến nhà phố. Chỉ cần một ít thời gian, các bạn đều có thể làm cho ngôi nhà mình dân dã, thoải mái và sang trọng.

-->đọc tiếp...

Tuesday, April 14, 2009

Chùa Dâu - Nơi khởi nguồn đạo Phật Việt Nam

Chùa Dâu tên chữ là Pháp Vân tự, Diêu Ứng tự hay Cổ Châu tự, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Dàn, chùa Pháp Điện thờ Bà Tướng.

Chùa được xây dựng từ đầu công nguyên ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Từ cuối thế kỷ VI, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người Nam Âởn Độ, đã mở đạo tràng thuyết pháp tại chùa, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam. ởChùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau. Ơ tòa thượng điện, còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời Lê. Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng, nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Chùa Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Chùa nằm ở trung tâm của khu di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và văn mộ Sĩ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, dấu tích đền đài, dinh thự, đường xá, bến bãi, phố chợ, hàng trăm mộ táng, lò gạch ngói, gốm cổ… làm chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ trước và sau Công nguyên.

Nơi đây từng là thủ phủ của quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta.

Những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo VN xuất hiện cách đây khoảng 1800 năm.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới vùng Dâu - tức Luy Lâu, tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu - một trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất VN.

Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là một trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) - một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Dâu.

Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì -ni -đa -lưu -chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng VN, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni.

Thời Lý -Trần, chùa Dâu được trùng tu mở rộng với quy mô lớn mà người có công đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Vua quan, các cung tần mỹ nữ các triều đại thường lui tới thăm chùa, lễ Phật, cầu đảo, cầu tự.

Lễ hội chùa Dâu hàng năm vào ngày tám tháng tư âm lịch- ngày kỷ niệm Phật mẫu Man Nương sinh hạ nữ nhi. Đây cũng là một trong những lễ hội Phật giáo lớn của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian.

Đặc biệt, ngôi tháp Hòa Phong 3 tầng vươn cao, hệ thống tương Pháp Vân (tức bà Dâu), kim đồng ngọc nữ, tượng Mạc Đĩnh Chi, các ngai thờ, tương Thạch Quang, bia đá… là những di sản nghệ thuật quý và tiêu biểu của thời Lê. Đáng chú ý là bộ khắc ván “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” là nguồn sử liệu đặc bịệt quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo VN.


Ấn Tượng Chùa Dâu

Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Gần hai ngàn năm biến dịch với bao lần đổi thay, tu tạo có lẽ bây giờ cảnh quan chùa Dâu đã khác xưa nhiều. Nghe nói, trước đây con đường vào chùa đẹp lắm. Qua tam quan đồ sộ và bãi đất rộng nằm giữa hai dãy ao dài in bóng chiếc cầu chín nhịp có mái lợp, kiểu nhà cầu cổ ta còn thấy ở Hội An và một số nơi khác, khách bộ hành vào chùa dâng hương thờ Phật. Đây là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được cất theo kiểu nội công ngoại quốc, một kiểu kiến trúc á Đông truyền thống. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi chính: Tiền đường, Thiện hương và Thượng điện. Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa vẫn còn được chứng kiến bốn mươi tễ gian nhà oản hai bên tả hữu. Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Dấu vết xưa nhất còn lại của ngôi chùa được khảo cổ học xác định là từ đời Trần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm 1313, đời vua Trần Anh Tông.

Theo nghiên cứu sử học, chùa Dâu với nhiều tên gọi: Diên ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự...có thể ra đời đồng thời với truyền thuyết Man Nương, một trong những mã khóa mở vào tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc. Vậy nên, hợp với chùa tổ Man Nương là cả một quần thể những chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống, nơi đây từng là nơi "kinh đô" của Phật giáo Việt Nam hơn mười thế kỷ đầu; với nhiều nhà sư nổi tiếng, với hội tắm Phật mùng tám tháng tễ hàng năm:

Dù ai buôn bán trăm bề
Nhớ ngày mùng tám thì về hội Dâu.

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Tượng Pháp Vân uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun. Gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ ấn, tới quê hương Tây Trúc, nơi cội nguồn của tễ tưởng thiện căn, của đức Từ - Bi - Hỉ - Xả. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Đặc biệt hai pho tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ đặt hai bên điện thờ chính gợi nhớ tới những cô thôn nữ của miền quê quan họ nơi này. Dáng người thắt đáy lưng ong uyển chuyển, vành khăn vấn trên đầu bình dị và mềm mại, chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy với dải lụa đào thướt tha... Cha ông ta đã rất tinh tế, nhuần nhị khi đặt tượng thờ Kim Đồng, Ngọc Nữ. Về đây, ta gặp sự giao hòa đẹp đẽ giữa tễ tưởng Phật giáo chính thống, một dạng thức văn hóa tinh thần ngoại nhập, với tâm linh, tinh thần bình dân, thuần phác. Ta cũng lại thấy ở đây một minh chứng rõ nét cho quá trình tiếp biến văn hóa, sự Việt hóa những giá trị tinh thần khi nhập nội.

Về chùa Dâu, về Thuận Thành, ta như được tắm mình trong không khí cổ xưa qua dấu ấn của nhiều tầng bậc lịch sử - văn hóa. Đây, đô thành Luy Lâu xưa bên dòng Thiên Đức gợi nhớ thời oanh liệt của Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống xâm lược Đông Hán những năm đầu thế kỷ. Đây dòng sông Dâu đã vào thơ Tố Hữu "con sông Dâu chảy về đâu, mà lơ thơ đến Luy Lâu lại dừng". Đây nữa, miền đất trù phú Keo - Dâu với tích truyện cô thôn nữ hái dâu nết na, xinh đẹp trở thành Nhiếp chính ỷ Lan tài giỏi, trông coi việc nước, giúp vua đánh giặc. Còn kia là Bút Tháp với tượng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay nổi tiếng; là làng tranh Đông Hồ, nơi tâm hồn dân gian dẫu hoàn cảnh nào vẫn luôn mỉm cười trên sắc vàng giấy điệp. Cạnh đó, dòng sông Đuống "ngày xưa cát trắng phẳng lỳ" giờ vẫn bình thản trôi như đã từng trôi qua những bến bờ lịch sử. Và từ chùa Dâu, ta có thể rẽ ngang thăm núi Thiên Thai hay về bên kia sông Đuống dâng hương các vị vua đời Lý tại đền Đô.

Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Ngày nay, chùa Dâu đang được Nhà nước và Giáo Hội Phật giáo Việt Nam quan tâm trùng tu, tôn tạo để xứng đáng với tên gọi"trung tâm của Phật giáo Việt Nam"nhiều thế kỷ.

Phạm Quang Huân

-->đọc tiếp...

Monday, April 13, 2009

Đình Tây Đằng, tinh hoa kiến trúc của người Việt

Đình Tây Đằng được dựng từ thế kỷ 16 với những rường, cột trụ, vì nóc..., thể hiện tinh hoa sáng tạo người Việt một thời.

Tây Đằng đứng đầu trong chuỗi đình của đất Quảng Oai, gồm những làng cổ tọa lạc trên các quả đồi đá ong, một vùng của xứ Đoài xưa, nay thuộc Thủ đô Hà Nội.

TayDang1.jpg

Đình được dựng từ thế kỷ 16, vào loại cổ nhất Việt Nam. Hơn thế, ngoài đình chùa, trong di sản văn hóa vật thể của người Việt, chưa phát hiện được công trình nào làm từ gỗ còn nguyên vẹn mà có niên đại xa xưa hơn.

Ngôi đình có bố cục nguyên thủy: mặt nằng hình chữ nhật, năm gian, nơi thờ trên gác lửng ở gian giữa. Tả mạc, hữu mạc, chuôi vồ xây thêm vào các đời sau.

Cấu trúc gỗ đình đặc trưng bởi bộ vì nóc làm theo kiểu “giá chiêng” với con rường trên cong vồng, có hai trụ hai bên với ván bưng hình lá đề chạm đôi phượng. Vì nóc kiều này chỉ có thể thấy ở một vài kiến trúc có niên đại rất xưa như chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Bối Khê và chùa Mui (Hà Nội), chùa Thái Lạc (Hải Dương).

TayDang2.jpg

Thăm Tây Đằng, du khách có thể bị thu hút, mê hoặc bởi hàng chục, trăm hình thái rồng được chạm khắc và đục đẽo thành tượng tròn, đặt ở các ván bưng, bức cốn, giữ vai trò đầu dư, con sơn.
Chưa một ngôi đình, đền nào khác có một sự thiên biến văn hóa hình rồng đến thế. Thân rồng gầy rộc, con ngươi mắt vượt ra ngoài quỹ đạo, miệng há rộng mà không phát thành âm. Nó nhìn như xói vào cõi lòng...

Đến ngôi đình 500 năm tuổi này, du khách còn bắt gặp một thủ pháp bài trí hiếm thấy trong di sản kiến trúc Việt Nam: một dải trang trí gồm tượng các tiên nữ cười ở dạnh con sơn, được kết nối bằng riềm hoa văn đặt cài dưới mái. Các tiên nữ thổi sáo, tiêu, gảy đàn đáy, đàn nguyệt… Hình hoa sen, đặc biệt hình hoa cúc cùng các mô típ hoa văn xoáy tròn, chạm trên các bảy hiên, đường nét rất tinh túy. Ngôi đình làng, vốn nghèo và hẻo lánh, nhưng tạo sự vương vấn sang trọng, quý phái.

TayDang3.jpg

Đình Tây Đằng còn hiện hữu những bức chạm mô tả và vĩnh cửu hóa cảnh sinh hoạt đời thường: gánh con đi chợ, đốn củi, cày bằng voi, săn hổ, chèo thuyền, con trai ghẹo gái làng, uống rượu… Ngôn ngữ thể hiện cảnh đời của các nghệ sĩ dân gian gần gũi với ngôn ngữ thể hiện của các họa sĩ thế kỷ 20.

Chạm trên ván gió đình Tây Đằng là chú voi tung cả bốn chân, vòi, đuôi và toét miệng cươi, cảm giác chú bay như làn gió, quên mất trọng lượng bản thân. Những thân cột, xà, đầu dư, kẻ bảy đình Tây Đằng tồn tại vượt qua các cửa ải sinh tử: sự mục nát, sự hủy hoại trong bão lũ và trong ngọn lửa, tàn phá và sự tham lam của người đời. Những khúc, mảng gỗ vô giác ấy bảo lưu cả một kho tàng sáng tạo, tình người và khát vọng, làm nhân chứng một thời.

-->đọc tiếp...

Đình Bảng - Vẻ đẹp kiến trúc đình làng xứ Bắc

Đình Đình Bảng là hình ảnh độc đáo của kiến trúc dân tộc. Nói về vị thế các ngôi đình, dân gian xứ Bắc có câu ca xếp hạng như sau:

Thứ nhất là đình Đông Khang

Thứ nhì đình Báng, vẻ vang đình Diềm.

Đình Đông Khang ngày nay không còn. Với vẻ đẹp về quy mô kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc, nghệ thuật trang trí và cái quý giá hơn là đình Đình Bảng cho du khách một cái nhìn trọn vẹn của kiến trúc đình làng được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII, trong khi các ngôi đình khác không còn giữ được dáng vẻ nguyên vẹn nữa.

Cách Hà Nội 20km về phía Bắc, Đình làng Đình Bảng (Đình Báng) thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh (xưa là Hương Cổ Pháp). Vùng địa linh này là quê hương Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ), người lập ra triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng Long (năm 1010).

Từ lâu, trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi nói về làng xã không ai quên nhắc tới ngôi đình làng, bởi đó là sự kết tinh trí tuệ, công sức, sự thịnh vượng của làng xã, niềm kiêu hãnh của làng xã, nơi chứng kiến và diễn ra các hoạt động lớn nhỏ của cả làng... là nơi các chàng trai, cô gái gửi gắm, bầy tỏ tâm tình.

"Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu"

Đình Bảng có cả cụm di tích văn hóa, nhất là những di tích về thời Lý, tạo thành một khu lưu niệm độc đáo, âm vang lịch sử, có tầm cỡ quốc gia, đủ cả: Đình, Đền, Chùa, Lăng, Tẩm .... đặc trưng của văn hóa làng Việt Nam.

Một góc mái đình làng Đình Bảng (Ảnh: Phạm Quyên)

Đình làng Đình Bảng là một ngôi đình cổ kính nổi tiếng nhất của đất Kinh Bắc, được xây dựng năm 1700 và đến năm 1736 mới được hoàn thành, do công đầu của quan Nguyễn Thạc Lượng, người Đình Bảng và bà vợ đảm đang Nguyễn Thị Nguyên quê ở Thanh Hóa đã mua gỗ lim về dâng làng xây dựng, ngôi đình có thế trường tồn (Nay ngôi nhà cổ của ông Nguyễn Thạc Lượng cho dựng thử trước khi cho dựng Đình Bảng vẫn còn và được gìn giữ bảo tồn).

Đình Bảng là nơi hội tụ văn hoá tín ngưỡng, nguyên trước Đình thờ 3 vị nhiên thần: Cao Sơn đại vương (Thần Đất), Thuỷ Bá đại vương (Thần Nước) và Bạch Lệ đại vương (Thần Trồng Trọt), đây là các vị thần được cư dân nông nghiệp tôn thờ, cầu mong mưa thuận gió hoà cho mùa màng tươi tốt. Hàng năm vào tháng 12 âm lịch nhân dân lại mở hội cầu khẩn cho một năm mùa màng bội thu. Cũng tại đình làng nhân dân cũng thờ Lục Tổ (6 vị có công lập lại làng vào thế kỷ XV. Sau này khi đền Lý Bát Đế bị thực dân pháp phá năm 1948, nhân dân đã tiếp nhận bài vị của tám vị vua triều Lý về thờ tại đình Đình Bảng.

Đình Đình Bảng là hình ảnh độc đáo của kiến trúc dân tộc, giữ được hình ảnh toàn vẹn kiểu thức nhà sàn dân tộc được áp dụng cho kiến trúc đình làng. Nhìn lại lịch sử từ buổi đầu dựng nước, hình ảnh ngôi nhà sàn còn in giữ trên các trống đồng Đông Sơn - Một sáng tạo của cha ông ta trong lĩnh vực kiến trúc nhà ở. Không thể đem ngôi đình đồ sộ sau mấy mươi thế kỷ đem so sánh với những nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn nhưng phải nhận thấy cả hai mẫu hình này có phong thái thống nhất, có sự kế thừa và phát triển truyền thống kiến trúc được xác lập từ buổi đầu dựng nước.

Đình Đình Bảng là một công trình kiến trúc quy mô, nguyên trước có cả tam quan, cửa giữa xây hai trụ gạch kiểu lồng đèn cao, hai bên có cửa cuốn tò vò giả mái, phía sau là khoảng sân rộng, hai bên là hai dãy tả vu và hữu vu. Cũng như mọi ngôi đình khác, công trình quan trọng nhất của Đình Đình Bảng về mặt kiến trúc nghệ thuật là toà Bái Đường (Đại Đình).

Bái Đường của đình có hình chữ nhật, dài 20m, rộng 14m chia làm bảy gian, hai chái nằm trên nền cao bó đá xanh có hai bậc cấp. Vẻ đồ sộ của đình thể hiện qua phần mái toả rộng chiếm 2/3 chiều cao tổng thể và 6 hàng, khoảng 60 cột lim lớn nhỏ có đường kính từ 0,55- 0,65 mét được đặt trên các tảng đá xanh vuông vức.

Khi bước vào lòng đình, quý khách được đón chào và bị cuốn hút bởi tất cả sự tinh hoa của nghệ thuật chạm khắc thế kỷ XVIII. Sự cuốn hút đầu tiên với mọi du khách là bức cửa Võng lớn ở cung giữa thuộc gian ngoài. Bức Võng phủ kín một diện rộng, kéo dài từ Thượng lương xuống Hạ xà và mở ngang hết một gian. Cửa Võng được chạm lộng kết hợp chạm nổi tinh xảo trên cả 7 lớp, 9 ô các đề tài tứ linh, tứ quí.... phía trên bức cửa Võng là bức trần gỗ che kín mái gian giữa với hình trang trí là một con chim Phượng xoè rộng cánh tới các vầng vân mây quanh đó.

Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khác rất đa dạng, chạm trổ tinh vi, chau chuốt, hài hoà. Kết cấu bộ khung đình khá vững chắc, gắn với nhau bằng các loại mộng theo lối chồng giường "Thượng tam, hạ tứ". Mỗi bức chạm khắc ở đình là một tác phẩm nổi tiếng độc nhất vô nhị. Càng chiêm ngưỡng, càng thêm bị cuốn hút: Bức "Bát mã quần phi" thể hiện sự sống động, thấy được sự phóng khoáng và nét thanh bình của mảnh đất này qua hình ảnh và tư thế của từng chú ngựa. Bức Lưỡng nghê phục chầu, con đực, con cái, mỗi con một vẻ. Những bức chạm rồng tuyệt xảo: Long vân đại hội, Ngũ long tranh châu, Lục long ngự thiên...từng bức, từng bức gợi tả bao điều.

Tháng 2 năm 1946 Bác Hồ đã về thăm và đình Đình Bảng là một trong những địa điểm dự kiến chuẩn bị cho Quốc hội họp phiên đầu tiên. Ngôi đình càng nổi tiếng hơn vì thế.

Suốt hơn 200 năm kể từ khi khởi dựng, cho đến nay đình Đình Bảng đã đi vào đời sống tình cảm và là niềm tự hào của người xứ Bắc nói riêng, và đất nước nói chung.

-->đọc tiếp...

TrinhGia architect latest post

Advertisement

Free Games www.roask.com Free web directoryVermeld Web Directory Winentrance.com Explore2india.com Genuineinfotech.com Globalcomputerbusiness.com Cybergiftindia.com
Dmegs Web Directorycommercial property to rent businesses for saleWebRoads Deep Links DirectoryPin By Directory Catalog Clonet

Blog Archive

 

Copyright 2008 All Rights Reserved TrinhGia architect group by TrinhChienThang Converted into Blogger Template by Bloganol dot com