Saturday, April 25, 2009

Tạo tiểu cảnh dưới cầu thang

Lâu nay, mọi người vẫn thường coi gầm cầu thang đơn giản là nơi cất đồ lặt vặt. Nhưng đó chính là vị trí quan trọng của một ngôi nhà, là điểm bắt đầu của giao thông đứng và ngang. Vì vậy, hãy tạo cho không gian đó một dáng vẻ mới nhờ tiểu cảnh.

Chỉ cần tận dụng một phần diện tích nhỏ dưới gầm cầu thang là bạn có thể cảm nhận được một không gian thiên nhiên ngay trong ngôi nhà mình. Tiểu cảnh nhỏ được kết hợp giữa cây xanh, đá, sỏi cuội, thác nước hoặc những yếu tố rất thiên nhiên khác.

Để có thể trồng cây trong tiểu cảnh, bạn nên tạo một gờ nhỏ bằng đá hoặc bằng những hàng rào thấp giả gỗ. Dưới gầm cầu thang thường thấp, vì vậy nên trồng những cây thấp để không chạm vào gầm thang. Cây dưới gầm thang thường là những cây chịu được ánh sáng yếu như đại phú gia, lan bạch chỉ, hồng môn, đỏ môn hay vạn niên thanh...

Bạn cũng có thể trang trí tiểu cảnh bằng những viên đá cuội hoặc sỏi nhỏ với màu trắng, xanh đan xen. Cây xanh trong tiểu cảnh dùng sỏi thường được trồng trong bình rồi lấp sỏi lên. Hiệu quả của cây xanh sẽ rất cao khi màu xanh mềm mại được mọc lên từ những đám sỏi khô cứng.

Tiểu cảnh dưới gầm cầu thang thường được dựa theo tường nhà do đó bạn nên chú ý trang trí cả cho bức tường. Để tạo sự hài hòa với các yếu tố tự nhiên trong tiểu cảnh, nên trang trí bức tường bằng đá tự nhiên.

Để cây trong tiểu cảnh phát triển bình thường, nên lắp kính trên mái để lấy ánh sáng tự nhiên cho cây hấp thụ. Có thể dùng gạch kính hoặc cửa kính để lấy sáng từ ngoài vào nếu bên ngoài thoáng. Còn nếu do điều kiện căn nhà không thể lấy ánh sáng tự nhiên thì bạn nên dùng đèn day-light. Đây là loại đèn tạo ra ánh sáng giống ánh sáng mặt trời giúp cây quang hợp và phát triển bình thường như ở điều kiện ngoài tự nhiên. Bạn cũng có thể trang trí cho tiểu cảnh trong nhà mình thêm phần sinh động bằng những chiếc đèn tạo ra ánh sáng màu, như thế sẽ làm nổi bật tiểu cảnh trong nhà bạn

-->đọc tiếp...

Vườn Nhật trong kiến trúc hiện đại

Trong kiến trúc, vườn Nhật truyền thống được phân thành ba loại gồm vườn trà (Chaniwa), vườn khô (Karesansui), vườn đi dạo (Kaiyushiki). Mỗi loại vườn có một bố cục khác nhau, nhưng đều mang đậm tính "Thiền".
Trong vườn Nhật, đất là vật liệu làm nền cho cho những chất liệu căn bản như đá, nước và cây cối. Những chất liệu thiên nhiên này với những hình dạng khác nhau kết hợp nên khu vườn.

Đá có ý nghĩa quan trọng trong vườn Nhật. Nó như là bộ xương, là nền tảng của khu vườn. Nhiều chất liệu sử dụng trong vườn được thực hiện từ đá như đá giậm bước, móng cầu, tường, thạch đăng lung, thuỷ bồn. Đá được bố trí nằm riêng lẻ hay kết hợp với cây cỏ làm thành phông nền cho khu vườn.

Đá có chức năng phân chia những khu vực trong vườn thành những không gian thân mật, riêng tư. Khi lựa chọn đá cũng cần lưu ý. Giá trị nhất là những tảng đá có hình dạng thanh nhã, kết cấu hấp dẫn, gân đẹp, có vẻ sần sùi già nua và hoàn toàn tự nhiên, nếu có bám rêu và địa y thì càng thêm giá trị.

Đi kèm với đá, nước là một chất liệu thống trị trong vườn Nhật. Một hồ nước nhỏ đơn sơ cũng có thể thể hiện được sinh động nét lung linh, huyền ảo. Những lối đi quanh co cũng góp phần gắn kết khu vườn lại với nhau.

Việc lựa chọn và trồng những cây thích hợp cả về chủng loại và kích cỡ là rất cần thiết. Đối với vườn Nhật thì thiết kế cây trồng có nghĩa bao gồm cả việc định dạng kích thước và hình dáng của từng cây trong khu vườn. Khu vườn càng nhỏ thì yêu cầu càng chặt chẽ.

Giống như sự cân bằng, tính đồng nhất là trọng tâm của nghệ thuật kiến tạo vườn Nhật. Khu vườn phải tạo cho người ngắm một cảm giác đồng nhất, chan hoà và không tách biệt với thiên nhiên. Hình dáng kiến trúc của ngôi nhà và dáng vẻ tự nhiên của khu vườn như hoà quyện được vào nhau. Tính đồng nhất cũng góp phần bổ sung cho khu vườn những dáng vẻ mới, hấp dẫn thể hiện được khoảng không và chỗ kín đáo, sự phù du và vĩnh cửu, sự mềm mại và cứng rắn.

Ở Việt Nam, muốn làm kiểu vườn Nhật cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc như trên. Đối với đá, có rất nhiều chủng loại cho bạn lựa chọn như sỏi cuội to, đá granite, đá thấm thuỷ, đá hộc để trang trí cho khu vườn. Đẹp nhất là sỏi cuội to và đá granite. Ở khu vực nước nên dùng đá thấm thuỷ để tạo điều kiện mọc rêu làm tăng tính tự nhiên cho khu vườn.

Cỏ Nhật được trồng làm nền cho khu vườn. Tuy nhiên, cần lưu ý, cỏ nhật chỉ thích hợp với diện tích rộng và không chịu bóng. Khu vực dưới các tán cây, bàn ghế không nên trồng cỏ nhật vì dễ bị chết. Nên trồng thay thế bằng các loại cỏ tre, rau má, chua me đất… Cây bụi cắt xén có thể trồng các loại như mẫu đơn đỏ, hồng vàng hoặc hoa ngâu. Ngoài ra, có thể điểm thêm các loại cây như hoa sưa, tường vi cho khu vườn thêm sinh động.

Những ngôi nhà với đường nét kiến trúc đơn giản, hài hoà rất phù hợp với phong cách của vườn Nhật. Bản thân gia chủ cũng là người trọng sự giản dị, thanh cao và triết lý thì mới có thể yêu nét đơn sơ của vườn Nhật. Làm vườn Nhật không cần diện tích rộng nhưng muốn đẹp đòi hỏi phải có sự tư vấn của kiến trúc sư hoặc có bàn tay chuyên nghiệp của người làm vườn chứ không thể là của những người nghiệp dư.

-->đọc tiếp...

Saturday, April 18, 2009

Tre trong trang trí nhà phố

Nơi đô thị không thiếu bêtông, kính, sắt, thép… Vì vậy, đôi khi bạn muốn làm mềm đi không gian nội thất của mình để tạo cảm giác thoải mái nhưng cũng không kém phần sang trọng. Thật đơn giản nếu bạn kết hợp nội thất với tre – một đại diện của sự dân dã, nhẹ nhàng.




Mành tre, vách tre,… thật đơn giản nhưng tạo cho không gian nhà bạn một sức sống mới. Với hình dáng mộc mạc, đôi khi khẳng khiu nhưng ngôi nhà bạn rất gần gũi với thiên nhiên.

Một bức vách tre đặt hờ, bên cạnh là bình hoa cắm những búp sen hồng, vẻ mềm mại uyển chuyển của sen kết hợp dáng thẳng nhưng mảnh mai của tre bất ngờ tạo ra một khoảng không gian thật Việt.

Bạn có thể sử dụng toàn bộ thân tre với dáng nguyên sơ của nó để trồng trước nhà, hoặc những thân tre đã qua gọt giũa một phần, tất cả dường như làm nới rộng không gian chật hẹp nơi phố thị, tạo cảm giác thoải mái.

Bạn có thể bắt gặp hình ảnh tre ở bất cứ nơi nào trong nhà, từ phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, dưới chân cầu thang, giếng trời… nhưng không nơi nào làm bạn nhàm chán, bởi chính hình ảnh của chúng đã đem đến cho bạn sự an lành, như được sống, được nghỉ ngơi ở nhà quê thật sự thư giãn.

Tre vàng, tre xanh, tre khẳng khiu hay đầy đặn một chút… đều mang đến cho bạn hình bóng thiên nhiên, mang hơi thở dung dị đến nhà phố. Chỉ cần một ít thời gian, các bạn đều có thể làm cho ngôi nhà mình dân dã, thoải mái và sang trọng.

-->đọc tiếp...

Tuesday, April 14, 2009

Chùa Dâu - Nơi khởi nguồn đạo Phật Việt Nam

Chùa Dâu tên chữ là Pháp Vân tự, Diêu Ứng tự hay Cổ Châu tự, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Dàn, chùa Pháp Điện thờ Bà Tướng.

Chùa được xây dựng từ đầu công nguyên ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Từ cuối thế kỷ VI, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người Nam Âởn Độ, đã mở đạo tràng thuyết pháp tại chùa, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam. ởChùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau. Ơ tòa thượng điện, còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời Lê. Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng, nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Chùa Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.

Chùa nằm ở trung tâm của khu di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và văn mộ Sĩ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, dấu tích đền đài, dinh thự, đường xá, bến bãi, phố chợ, hàng trăm mộ táng, lò gạch ngói, gốm cổ… làm chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ trước và sau Công nguyên.

Nơi đây từng là thủ phủ của quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta.

Những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo VN xuất hiện cách đây khoảng 1800 năm.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới vùng Dâu - tức Luy Lâu, tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu - một trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất VN.

Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là một trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) - một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Dâu.

Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì -ni -đa -lưu -chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng VN, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni.

Thời Lý -Trần, chùa Dâu được trùng tu mở rộng với quy mô lớn mà người có công đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Vua quan, các cung tần mỹ nữ các triều đại thường lui tới thăm chùa, lễ Phật, cầu đảo, cầu tự.

Lễ hội chùa Dâu hàng năm vào ngày tám tháng tư âm lịch- ngày kỷ niệm Phật mẫu Man Nương sinh hạ nữ nhi. Đây cũng là một trong những lễ hội Phật giáo lớn của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian.

Đặc biệt, ngôi tháp Hòa Phong 3 tầng vươn cao, hệ thống tương Pháp Vân (tức bà Dâu), kim đồng ngọc nữ, tượng Mạc Đĩnh Chi, các ngai thờ, tương Thạch Quang, bia đá… là những di sản nghệ thuật quý và tiêu biểu của thời Lê. Đáng chú ý là bộ khắc ván “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” là nguồn sử liệu đặc bịệt quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo VN.


Ấn Tượng Chùa Dâu

Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về

Gần hai ngàn năm biến dịch với bao lần đổi thay, tu tạo có lẽ bây giờ cảnh quan chùa Dâu đã khác xưa nhiều. Nghe nói, trước đây con đường vào chùa đẹp lắm. Qua tam quan đồ sộ và bãi đất rộng nằm giữa hai dãy ao dài in bóng chiếc cầu chín nhịp có mái lợp, kiểu nhà cầu cổ ta còn thấy ở Hội An và một số nơi khác, khách bộ hành vào chùa dâng hương thờ Phật. Đây là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên.

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được cất theo kiểu nội công ngoại quốc, một kiểu kiến trúc á Đông truyền thống. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi chính: Tiền đường, Thiện hương và Thượng điện. Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa vẫn còn được chứng kiến bốn mươi tễ gian nhà oản hai bên tả hữu. Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Dấu vết xưa nhất còn lại của ngôi chùa được khảo cổ học xác định là từ đời Trần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm 1313, đời vua Trần Anh Tông.

Theo nghiên cứu sử học, chùa Dâu với nhiều tên gọi: Diên ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự...có thể ra đời đồng thời với truyền thuyết Man Nương, một trong những mã khóa mở vào tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc. Vậy nên, hợp với chùa tổ Man Nương là cả một quần thể những chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống, nơi đây từng là nơi "kinh đô" của Phật giáo Việt Nam hơn mười thế kỷ đầu; với nhiều nhà sư nổi tiếng, với hội tắm Phật mùng tám tháng tễ hàng năm:

Dù ai buôn bán trăm bề
Nhớ ngày mùng tám thì về hội Dâu.

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Tượng Pháp Vân uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun. Gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ ấn, tới quê hương Tây Trúc, nơi cội nguồn của tễ tưởng thiện căn, của đức Từ - Bi - Hỉ - Xả. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Đặc biệt hai pho tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ đặt hai bên điện thờ chính gợi nhớ tới những cô thôn nữ của miền quê quan họ nơi này. Dáng người thắt đáy lưng ong uyển chuyển, vành khăn vấn trên đầu bình dị và mềm mại, chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy với dải lụa đào thướt tha... Cha ông ta đã rất tinh tế, nhuần nhị khi đặt tượng thờ Kim Đồng, Ngọc Nữ. Về đây, ta gặp sự giao hòa đẹp đẽ giữa tễ tưởng Phật giáo chính thống, một dạng thức văn hóa tinh thần ngoại nhập, với tâm linh, tinh thần bình dân, thuần phác. Ta cũng lại thấy ở đây một minh chứng rõ nét cho quá trình tiếp biến văn hóa, sự Việt hóa những giá trị tinh thần khi nhập nội.

Về chùa Dâu, về Thuận Thành, ta như được tắm mình trong không khí cổ xưa qua dấu ấn của nhiều tầng bậc lịch sử - văn hóa. Đây, đô thành Luy Lâu xưa bên dòng Thiên Đức gợi nhớ thời oanh liệt của Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống xâm lược Đông Hán những năm đầu thế kỷ. Đây dòng sông Dâu đã vào thơ Tố Hữu "con sông Dâu chảy về đâu, mà lơ thơ đến Luy Lâu lại dừng". Đây nữa, miền đất trù phú Keo - Dâu với tích truyện cô thôn nữ hái dâu nết na, xinh đẹp trở thành Nhiếp chính ỷ Lan tài giỏi, trông coi việc nước, giúp vua đánh giặc. Còn kia là Bút Tháp với tượng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay nổi tiếng; là làng tranh Đông Hồ, nơi tâm hồn dân gian dẫu hoàn cảnh nào vẫn luôn mỉm cười trên sắc vàng giấy điệp. Cạnh đó, dòng sông Đuống "ngày xưa cát trắng phẳng lỳ" giờ vẫn bình thản trôi như đã từng trôi qua những bến bờ lịch sử. Và từ chùa Dâu, ta có thể rẽ ngang thăm núi Thiên Thai hay về bên kia sông Đuống dâng hương các vị vua đời Lý tại đền Đô.

Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Ngày nay, chùa Dâu đang được Nhà nước và Giáo Hội Phật giáo Việt Nam quan tâm trùng tu, tôn tạo để xứng đáng với tên gọi"trung tâm của Phật giáo Việt Nam"nhiều thế kỷ.

Phạm Quang Huân

-->đọc tiếp...

Monday, April 13, 2009

Đình Tây Đằng, tinh hoa kiến trúc của người Việt

Đình Tây Đằng được dựng từ thế kỷ 16 với những rường, cột trụ, vì nóc..., thể hiện tinh hoa sáng tạo người Việt một thời.

Tây Đằng đứng đầu trong chuỗi đình của đất Quảng Oai, gồm những làng cổ tọa lạc trên các quả đồi đá ong, một vùng của xứ Đoài xưa, nay thuộc Thủ đô Hà Nội.

TayDang1.jpg

Đình được dựng từ thế kỷ 16, vào loại cổ nhất Việt Nam. Hơn thế, ngoài đình chùa, trong di sản văn hóa vật thể của người Việt, chưa phát hiện được công trình nào làm từ gỗ còn nguyên vẹn mà có niên đại xa xưa hơn.

Ngôi đình có bố cục nguyên thủy: mặt nằng hình chữ nhật, năm gian, nơi thờ trên gác lửng ở gian giữa. Tả mạc, hữu mạc, chuôi vồ xây thêm vào các đời sau.

Cấu trúc gỗ đình đặc trưng bởi bộ vì nóc làm theo kiểu “giá chiêng” với con rường trên cong vồng, có hai trụ hai bên với ván bưng hình lá đề chạm đôi phượng. Vì nóc kiều này chỉ có thể thấy ở một vài kiến trúc có niên đại rất xưa như chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Bối Khê và chùa Mui (Hà Nội), chùa Thái Lạc (Hải Dương).

TayDang2.jpg

Thăm Tây Đằng, du khách có thể bị thu hút, mê hoặc bởi hàng chục, trăm hình thái rồng được chạm khắc và đục đẽo thành tượng tròn, đặt ở các ván bưng, bức cốn, giữ vai trò đầu dư, con sơn.
Chưa một ngôi đình, đền nào khác có một sự thiên biến văn hóa hình rồng đến thế. Thân rồng gầy rộc, con ngươi mắt vượt ra ngoài quỹ đạo, miệng há rộng mà không phát thành âm. Nó nhìn như xói vào cõi lòng...

Đến ngôi đình 500 năm tuổi này, du khách còn bắt gặp một thủ pháp bài trí hiếm thấy trong di sản kiến trúc Việt Nam: một dải trang trí gồm tượng các tiên nữ cười ở dạnh con sơn, được kết nối bằng riềm hoa văn đặt cài dưới mái. Các tiên nữ thổi sáo, tiêu, gảy đàn đáy, đàn nguyệt… Hình hoa sen, đặc biệt hình hoa cúc cùng các mô típ hoa văn xoáy tròn, chạm trên các bảy hiên, đường nét rất tinh túy. Ngôi đình làng, vốn nghèo và hẻo lánh, nhưng tạo sự vương vấn sang trọng, quý phái.

TayDang3.jpg

Đình Tây Đằng còn hiện hữu những bức chạm mô tả và vĩnh cửu hóa cảnh sinh hoạt đời thường: gánh con đi chợ, đốn củi, cày bằng voi, săn hổ, chèo thuyền, con trai ghẹo gái làng, uống rượu… Ngôn ngữ thể hiện cảnh đời của các nghệ sĩ dân gian gần gũi với ngôn ngữ thể hiện của các họa sĩ thế kỷ 20.

Chạm trên ván gió đình Tây Đằng là chú voi tung cả bốn chân, vòi, đuôi và toét miệng cươi, cảm giác chú bay như làn gió, quên mất trọng lượng bản thân. Những thân cột, xà, đầu dư, kẻ bảy đình Tây Đằng tồn tại vượt qua các cửa ải sinh tử: sự mục nát, sự hủy hoại trong bão lũ và trong ngọn lửa, tàn phá và sự tham lam của người đời. Những khúc, mảng gỗ vô giác ấy bảo lưu cả một kho tàng sáng tạo, tình người và khát vọng, làm nhân chứng một thời.

-->đọc tiếp...

Đình Bảng - Vẻ đẹp kiến trúc đình làng xứ Bắc

Đình Đình Bảng là hình ảnh độc đáo của kiến trúc dân tộc. Nói về vị thế các ngôi đình, dân gian xứ Bắc có câu ca xếp hạng như sau:

Thứ nhất là đình Đông Khang

Thứ nhì đình Báng, vẻ vang đình Diềm.

Đình Đông Khang ngày nay không còn. Với vẻ đẹp về quy mô kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc, nghệ thuật trang trí và cái quý giá hơn là đình Đình Bảng cho du khách một cái nhìn trọn vẹn của kiến trúc đình làng được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII, trong khi các ngôi đình khác không còn giữ được dáng vẻ nguyên vẹn nữa.

Cách Hà Nội 20km về phía Bắc, Đình làng Đình Bảng (Đình Báng) thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh (xưa là Hương Cổ Pháp). Vùng địa linh này là quê hương Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ), người lập ra triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng Long (năm 1010).

Từ lâu, trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi nói về làng xã không ai quên nhắc tới ngôi đình làng, bởi đó là sự kết tinh trí tuệ, công sức, sự thịnh vượng của làng xã, niềm kiêu hãnh của làng xã, nơi chứng kiến và diễn ra các hoạt động lớn nhỏ của cả làng... là nơi các chàng trai, cô gái gửi gắm, bầy tỏ tâm tình.

"Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu"

Đình Bảng có cả cụm di tích văn hóa, nhất là những di tích về thời Lý, tạo thành một khu lưu niệm độc đáo, âm vang lịch sử, có tầm cỡ quốc gia, đủ cả: Đình, Đền, Chùa, Lăng, Tẩm .... đặc trưng của văn hóa làng Việt Nam.

Một góc mái đình làng Đình Bảng (Ảnh: Phạm Quyên)

Đình làng Đình Bảng là một ngôi đình cổ kính nổi tiếng nhất của đất Kinh Bắc, được xây dựng năm 1700 và đến năm 1736 mới được hoàn thành, do công đầu của quan Nguyễn Thạc Lượng, người Đình Bảng và bà vợ đảm đang Nguyễn Thị Nguyên quê ở Thanh Hóa đã mua gỗ lim về dâng làng xây dựng, ngôi đình có thế trường tồn (Nay ngôi nhà cổ của ông Nguyễn Thạc Lượng cho dựng thử trước khi cho dựng Đình Bảng vẫn còn và được gìn giữ bảo tồn).

Đình Bảng là nơi hội tụ văn hoá tín ngưỡng, nguyên trước Đình thờ 3 vị nhiên thần: Cao Sơn đại vương (Thần Đất), Thuỷ Bá đại vương (Thần Nước) và Bạch Lệ đại vương (Thần Trồng Trọt), đây là các vị thần được cư dân nông nghiệp tôn thờ, cầu mong mưa thuận gió hoà cho mùa màng tươi tốt. Hàng năm vào tháng 12 âm lịch nhân dân lại mở hội cầu khẩn cho một năm mùa màng bội thu. Cũng tại đình làng nhân dân cũng thờ Lục Tổ (6 vị có công lập lại làng vào thế kỷ XV. Sau này khi đền Lý Bát Đế bị thực dân pháp phá năm 1948, nhân dân đã tiếp nhận bài vị của tám vị vua triều Lý về thờ tại đình Đình Bảng.

Đình Đình Bảng là hình ảnh độc đáo của kiến trúc dân tộc, giữ được hình ảnh toàn vẹn kiểu thức nhà sàn dân tộc được áp dụng cho kiến trúc đình làng. Nhìn lại lịch sử từ buổi đầu dựng nước, hình ảnh ngôi nhà sàn còn in giữ trên các trống đồng Đông Sơn - Một sáng tạo của cha ông ta trong lĩnh vực kiến trúc nhà ở. Không thể đem ngôi đình đồ sộ sau mấy mươi thế kỷ đem so sánh với những nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn nhưng phải nhận thấy cả hai mẫu hình này có phong thái thống nhất, có sự kế thừa và phát triển truyền thống kiến trúc được xác lập từ buổi đầu dựng nước.

Đình Đình Bảng là một công trình kiến trúc quy mô, nguyên trước có cả tam quan, cửa giữa xây hai trụ gạch kiểu lồng đèn cao, hai bên có cửa cuốn tò vò giả mái, phía sau là khoảng sân rộng, hai bên là hai dãy tả vu và hữu vu. Cũng như mọi ngôi đình khác, công trình quan trọng nhất của Đình Đình Bảng về mặt kiến trúc nghệ thuật là toà Bái Đường (Đại Đình).

Bái Đường của đình có hình chữ nhật, dài 20m, rộng 14m chia làm bảy gian, hai chái nằm trên nền cao bó đá xanh có hai bậc cấp. Vẻ đồ sộ của đình thể hiện qua phần mái toả rộng chiếm 2/3 chiều cao tổng thể và 6 hàng, khoảng 60 cột lim lớn nhỏ có đường kính từ 0,55- 0,65 mét được đặt trên các tảng đá xanh vuông vức.

Khi bước vào lòng đình, quý khách được đón chào và bị cuốn hút bởi tất cả sự tinh hoa của nghệ thuật chạm khắc thế kỷ XVIII. Sự cuốn hút đầu tiên với mọi du khách là bức cửa Võng lớn ở cung giữa thuộc gian ngoài. Bức Võng phủ kín một diện rộng, kéo dài từ Thượng lương xuống Hạ xà và mở ngang hết một gian. Cửa Võng được chạm lộng kết hợp chạm nổi tinh xảo trên cả 7 lớp, 9 ô các đề tài tứ linh, tứ quí.... phía trên bức cửa Võng là bức trần gỗ che kín mái gian giữa với hình trang trí là một con chim Phượng xoè rộng cánh tới các vầng vân mây quanh đó.

Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khác rất đa dạng, chạm trổ tinh vi, chau chuốt, hài hoà. Kết cấu bộ khung đình khá vững chắc, gắn với nhau bằng các loại mộng theo lối chồng giường "Thượng tam, hạ tứ". Mỗi bức chạm khắc ở đình là một tác phẩm nổi tiếng độc nhất vô nhị. Càng chiêm ngưỡng, càng thêm bị cuốn hút: Bức "Bát mã quần phi" thể hiện sự sống động, thấy được sự phóng khoáng và nét thanh bình của mảnh đất này qua hình ảnh và tư thế của từng chú ngựa. Bức Lưỡng nghê phục chầu, con đực, con cái, mỗi con một vẻ. Những bức chạm rồng tuyệt xảo: Long vân đại hội, Ngũ long tranh châu, Lục long ngự thiên...từng bức, từng bức gợi tả bao điều.

Tháng 2 năm 1946 Bác Hồ đã về thăm và đình Đình Bảng là một trong những địa điểm dự kiến chuẩn bị cho Quốc hội họp phiên đầu tiên. Ngôi đình càng nổi tiếng hơn vì thế.

Suốt hơn 200 năm kể từ khi khởi dựng, cho đến nay đình Đình Bảng đã đi vào đời sống tình cảm và là niềm tự hào của người xứ Bắc nói riêng, và đất nước nói chung.

-->đọc tiếp...

Sunday, April 12, 2009

Thủ pháp vườn cảnh khô Nhật Bản

Tính biểu hiện của “ Vườn Cảnh Khô” ( Karesansui ) Nhật Bản là mô phỏng phong cảnh tự nhiên trong khu vườn nhà ( đình viên ), một trong những thủ pháp độc đáo của các tay viên nghệ ( nghệ nhân vườn cảnh ) thể hiện quan cảnh một địa mạo biến thiên của thiên nhiên từ xa xưa để lại dấu vết tang thương, những hòn đá nằm trơ ra đây đó ngổn ngang dọc lòng suối đã cạn khô, cành cây khô gãy vắt ngang bờ, gai gốc dây leo chằng chị, đem lại cho người thưởng ngoạn cảm giác tịch liêu, hồi cố sự thay đổi của thế nhân, mà hoài niệm cảnh “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”.
Vườn cảnh khô là một loại hình thiết kế lợi dụng địa thế địa hình hoàn toàn khu vườn nhà, dành riêng một phần phía sau nhà chẳng hạn, kiến tạo một cảnh trang trí hoang vu – tàn sơn thặng thủy. Như chúng ta biết vườn cảnh Nhật Bản là từ các yếu tố quan trọng yếu cấu thành những bộ phận khác nhau, và cũng lại là doa các bộ phận khác nhau tố thành vườn cảnh. Dùng thủ pháp mô phỏng biểu hiện một phần hoang vu cô quạnh phối hợp phần còn lại của khu vườn nhà, hoa cỏ xanh tươi, đồi khe róc rách nước, đổ vào chiếc ao con, những chiếc đèn đá bên bờ chờ đêm đến thắp lên ngọn lửa vàng hắt bóng xuống mặt ao; “Cỏ cây chen đá lá chen hoa”, cây cối cỏ hoa cắt tỉa tươm tất khéo gọn, triển hiện một cảnh quan tự nhiên hài hào đầy sức sống tươi mới. Chủ yếu của thủ pháp tạo dựng vườn cảnh khô nhằm mượn ý ( tá ý ) câu “ tân trần đại tạ” ( mới cũ thay nhau), một sự lý về vạn vật vô thường.

Từ sau khi các Thiền sư Vinh Tây ( 1141-1215 C.N Tăng lữ Nhật Bản), Đạo Nguyên ( 1200-1253) đem Thiền Tông truyền vào Nhật Bản, bắt đầu thấy có vườn Cảnh Khô trong các Tự viện Thiền Tông, dần dần vườn Cảnh Khô được phổ biến rộng ra theo Thiền học. Vào những thời kỳ này vườn Cảnh Khô thạnh hành chủ yếu ở các Thiền viện, vì nó biểu hiện được tính cách bộc trực giản phác của Thiền.
Bắt đầu từ thời đại Khiêm Thương (ước 1125-1573 C.N) hậu kỳ, trải qua các thời đại Thất Định (ước C.N 1336-1573), Đào Sơn (ước 1573-1602) đến thời đại Giang Hộ (ước 1603-1715 C.N) Sơ kỳ khoảng 300 năm là thời kỳ toàn thạnh của loại hình vườn Cảnh Khô Nhật Bản. Riêng trong thời đại Thất Định, giới quý tộc sùng thượng u nhã, hoa lệ, như vị Tướng quân Mạc Phủ đời thứu 3 Túc Lợi Nghĩa Mãn (C.N 1358-1408) và Túc Lợi Nghĩa Chánh (C.N.1435-1490) Thất Định Mạc Phủ Tướng quân đời thứ 8, tạo dựng hai tòa gác vàng son chói lọi là Kim Các Tự và Ngân Các Tự ở Kinh Đô (Kyoto). Vào thời này các quý tộc rất yêu chuộng những bộ môn văn hóa nghệ thuật Nhật Bản, họ luôn sáng tạo, đẩy mạnh, hoàn thiện các bộ môn nghệ thuật bắn cung, kiếm thuật, ca vũ kỹ, cắm hoa, uống trà, hình thành nên bộ môn văn hóa nghệ thuật “ Đạo” mà ngày nay chúng ta vẫn đang được hưởng dụng những sắc hương rực rỡ trang nhã của những bông hoa trong vườn hoa nghệ thuật này của Nhật Bản.
Giờ chúng tôi xin trở lại bộ môn nghệ thuật vườn Cảnh Khô, từ sơ kỳ của nó ở thế kỷ 12 đến thế kỷ 13 có nhiều cải biến. Theo tạp chí “Nipponia” số 8, 1999 viết “… Vào thời Kamakura ở thế kỷ 13, những người thiết kế vườn Nhật mê say ứng dụng những khuynh hướng mới nhất của Trung Quốc. Thời đó Trung Quốc chuộng nhất là loại tranh Suiboku-ga ( tranh thủy mạc, tranh vẽ bằng mực Tàu) đơn sắc. Rập theo phong cách vẽ tranh này, các nhà làm vườn tuyển chọn những khối đá có hình thù đặc biệt, tượng trưng cho núi non mọc lên trên những bãi cát trắng - tượng trưng cho biển. Đây là phong cách Kasesansui (cảnh khô), một phong cách trở nên lý tưởng thời Muromachi (thế kỷ 14-15). Phong cách Karesansui chủ yếu thịnh hành ở các thiền viện, vì nó diễn tả được cái tinh thần khắc khổ của thiền được theo đuổi thời bấy giờ.

-->đọc tiếp...

Tương quan giữa nhà và sân trong phong thuỷ

Miếng đất rộng rãi, cảnh quan xung quanh đẹp chưa đủ vì chính bản thân ngôi nhà và các mối tương quan sẽ quyết định cát hung của nơi cư ngụ. Xem tương quan nhà và sân là tìm hiểu những khoảng trống luân chuyển khí để có cách xử lý phù hợp.




Sân sau quá lớn

Đối với nhà phố, sân trước (để xe, đặt chậu cây) hay sân sau (giếng trời, sàn nước) thường chỉ vừa đủ do đất đai phố thị khan hiếm. Nhưng trường hợp nhà vườn hay biệt thự có sân sau thì cần lưu ý không nên để trống quá lớn.

Phép phong thủy chia sân sau nhà ra làm hai phần, phần bảo vệ (tạo cảnh quan, che chắn) và phần hỗ trợ (chỗ sinh hoạt, phơi phóng, vườn tược). Phần bảo vệ nên đắp đất cao hơn một chút so với phần hỗ trợ để tạo nên “tàng phong tụ khí”. Nếu đất phía sau cao và dày, sẽ làm chỗ dựa tốt cho toàn nhà theo nguyên lý “tọa sơn hướng thủy”.

Sân trước nhà quá rộng

Sân trước mỗi ngôi nhà thuộc về phần Minh Đường, rộng rãi sáng sủa thì tốt, nhưng rộng hay sâu quá đến mức lấn át cả ngôi nhà thì khả năng đối ngoại và kiểm soát trường khí sẽ bị giảm sút.

Một số dinh thự lớn ở phương Tây có cách bố trí đường dẫn vòng vèo mới vào đến nhà (nhà vườn Huế cũng vậy) nhưng khoảng vòng vèo đó không xem là sân trước, phần sân ngay thềm nhà bước xuống mới là sân trước còn gọi là Nội Minh Đường.

Sân trước nên rộng rãi, thoáng mát, tuy nhiên không được sâu hay rộng quá.

Việc trồng cây (dạng thân thẳng dáng đẹp như cau, dừa cảnh…) và bố trí hồ nước (Diện Thủy) sẽ giúp khoanh vùng và định vị không gian cho khoảng sân tốt hơn, đồng thời có thể giảm các tác động từ ngoài vào.

Vào sân xem gió

Một trong những điều đầu tiên cần chú ý là quan sát thế gió. Nếu thấy sân nhà có gió to và mạnh thì phải cân nhắc. Bởi vì cho dù thế ngôi nhà thuận lợi, nhưng gió mạnh sẽ không thể “tàng phong tụ khí” được. Ta hãy thử để ý những nơi ven biển, mỏm đá hay triền dốc gió thổi lồng lộng thường chỉ là chỗ tham quan vài ngày, không thể định cư lâu dài được vì tốc độ gió mạnh hơn nhịp sinh học bình thường của con người.

Nhưng nếu nhà mà phong thế quá yếu, nội khí tù hãm, cũng là điều không hay. Tốt hơn cả là đứng trong sân nhà vào các thời điểm khác nhau thấy gió mát nhẹ nhàng là hợp cách.

Nếu gió hơi mạnh thì dùng cây cối, mảng tường che chắn bớt, nếu hơi yếu thì xem thử có bị ngăn trở xung quanh hay không để mở thêm khoảng trống đón gió vào. Ngôi nhà lý tưởng nhất là có gió nhẹ, hơi mát trong lành thì mới hợp phong thủy

-->đọc tiếp...

Friday, April 10, 2009

Làng cổ Đường Lâm – Làng của đá ong

Một đoạn tường đá ong ở Đường Lâm

Gạch đá ong không chỉ có mặt ở mọi công trình xây dựng của làng Đường Lâm mà nó còn được làm nền đường đi và vây xung quanh các gốc cây ở khu di tích thờ hai vị vua là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

* Gạch đá ong - một nét văn hoá truyền thống và nét trang trí nổi bật ở làng cổ Đường Lâm.

Nằm cách Hà Nội khoảng hơn 50 km và cách thị xã Sơn Tây – Thành phố Hà Nội chừng 5 km về phía đông bắc làng cổ Đường Lâm đã trở thành khu du lịch thu hút được đông đảo khách du lịch tới thăm quan. Đến thăm quan làng cổ du khách vừa cảm nhận được vẻ đẹp cổ kính vừa khám phá được không khí thanh bình, dịu mát của làng quê Việt Nam.

Đọc nhiều, nghe nhiều nhưng thực sự làng cổ Đường Lâm vẫn gây sự tò mò cho chúng tôi. Câu nói: “Trăm nghe không bằng một thấy” đã thôi thúc chúng tôi tiến hành chuyến thực tế đến thăm làng đầy thú vị giữa thầy và trò khoa Việt Nam học.

* Xây đình bằng đá ong

Quả không sai chút nào! Khi dừng chân tại đình làng tôi mới cảm thấy một cảnh quan rất lạ, rất đẹp và rất Việt nữa. Khung cảnh xung quanh đã gây sự chú ý cho mọi người nhưng với riêng tôi một điều băn khoăn khi tôi tới đây đó là những viên gạch ĐÁ ONG.

* Gạch đá ong được làm như thế nào?

Tôi đã dạo quanh các làng cổ ở Đường Lâm để tìm hiểu và rồi đề tài tuy nhỏ bé nhưng đã khiến tôi viết lên những nghiên cứu và những tìm hiểu của mình về các công trình được xây bằng gạch đá ong. Lúc đầu tôi cũng nghĩ giống nhiều bạn rằng đá ong được người dân trong làng đúc, chế tạo ra để làm vật liệu chủ yếu cho các công trình trong làng. Nhưng đó chỉ là sự suy luận, mà theo thực tế tôi đã phỏng vấn cụ Hà Văn Soạn, 75 tuổi, giữ chức ban quản lý di tích đình của làng Mông Phụ. Khi được hỏi cụ tận tình nói: “ Gạch xây trên các bức tường của ngôi nhà cổ, hay xung quanh các ngôi đình,…không phải là gạch thường như ở các vùng quê khác có mà ở đây là xây bằng gạch đá ong. Gạch đá ong có từ trong tự nhiên, sẵn có dưới lòng đất và được người dân đào lên rồi dùng khuôn cắt thành viên. Đây được xem như là vật liệu chủ yếu để xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình mang tính chất cổ xưa. Vì vậy mà được gọi là làng Việt cổ đá ong”.

* Tác dụng của gạch đá ong

Đá ong vốn là loại gạch chắc chắn, có tính bền cao và những cái tưởng chừng như sần sùi kia lại chính như là nét hoa văn trang trí hết sức tinh tế góp phần tôn thêm tính thẩm mỹ cho ngôi chùa. Gạch đá ong được dùng để xây đình, chùa nhằm mục đích vừa tạo nên tính bền vững, kiên cố cho các ngôi công trình luôn hiên ngang trước mọi thiên tai và chống chọi với bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Những ngôi nhà cổ đã được xây bằng gạch đá ong hiện nay vẫn rất chắc chắn tuy nó đã trải qua thời gian rất dài gần 400 năm.

Gạch đá ong không chỉ có mặt ở mọi công trình xây dựng của làng Đường Lâm mà nó còn được làm nền đường đi và vây xung quanh các gốc cây ở khu di tích thờ hai vị vua là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Như vậy, có thể thấy gạch đá ong đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng của làng để làng mãi trở thành làng Việt cổ ở Việt Nam, là nơi lưu giữ nhiều ấn tượng cho du khách trong nước và khách nước ngoài.

Mặc dù hiện nay có nhiều vật liệu hiện đại hơn cho việc xây dựng nhưng vẫn không thể thay thế được những viên gạch đá ong đẹp mắt kia. Và những ngôi nhà cao tầng trông rất sang trọng mọc lên xung quanh cũng không che khuất được hay gây sự quan tâm hơn so với những ngôi nhà cổ bé thấp nhưng hiên ngang. Điều đáng mừng là dòng điện cao áp đã về tới ngôi làng cổ Đường Lâm, nó càng làm tăng vẻ đẹp cổ kính của những ngôi nhà cổ được ốp gạch đá ong và báo hiệu một tin mừng rằng Đường Lâm luôn tồn tại và phát triển.

-->đọc tiếp...

Monday, April 6, 2009

Ken Maher nhận giải thưởng KTQG của Australia


Với những cống hiến trong việc ‘định hình cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hóa’, tạo ra một trong số những ‘không gian công cộng có tính biểu tượng’ nhất của thành phố và ‘đảm bảo thiết kế tốt nhất trong tất cả những tòa nhà trên ba tầng’, kiến trúc sư Ken Maher đã được trao Giải thưởng Kiến trúc hàng đầu quốc gia của Australia của Học viện Kiến trúc của Australia năm 2009 Giải thưởng Gold Medal giành cho Kiến trúc

Với vai trò đại diện danh dự tại lễ kỷ niệm tại Sydney, Chủ tịch Học viện kiến trúc Australia, Howard Tanner đã nói rằng ông rất vinh dự khi được công bố một kiến trúc sư nổi tiếng, kiến trúc sư cảnh quan và người chủ trương thiết kế đô thị Giáo sư Ken Maher của HASSELL đã giành giải thưởng Gold Medal năm 2009.

Người giành giải thưởng Gold Medal dành cho kiến trúc của Hiệp hội Kiến trúc Australia năm 2009: Ken Maher

Về kiến trúc, Ken Maher nổi tiếng với hơn 38 năm sáng tạo ra hàng loạt những dự án nổi bật ở Sydney, Canberra, Adelaide, Brisbane, Trung Quốc và Melbourne. Chỉ riêng ở Sydney, các dự án của ông gồm có dự án cải tạo công viên Luna ở phía Bắc Sydney, bể bơi Olympic phía Bắc Sydney, nhà ga Olympic ở Homebush, các tòa nhà của học viện Nghệ thuật quốc gia (NIDA), và tuyến đường sắt mới Epping Chatswood. Ở nước ngoài, ông đã đưa ra ý tưởng về một trung tâm thành phố bền vững mới được cải tiến ở Chiết Giang,Trung Quốc và đứng đầu nhóm thiết kế một ga tàu điện ngầm mới ở Singapore. Ở Melbourne, ông đang thiết kế một nơi làm việc mới vô cùng rộng rãi cho Ngân hàng ANZ ở khu Docklands.

Nhà hát Canberra, Ảnh: Patrick Bingham Hall

Quan trọng không kém, ông còn được biết đến là người chủ trương cho việc ‘cam kết’ và hợp tác về kiến trúc, điều hành một trong những văn phòng lớn nhất của Australia, là người đóng góp chủ yếu cho những cuộc thi hàng đầu về thiết kế đô thị tại các bang và trên cả nước Úc. Ông có công trong việc giới thiệu Chính sách Quy hoạch Môi trường Quốc gia (SEPP) 65 ở New South Wales (NSW), tài liệu về mẫu thiết kế nhà dân và việc sử dụng ban thẩm tra thiết kế để nâng cao sự phát triển trên khắp Sydney.

Khi trao giải thưởng này, ông Tanner đã nói rằng Hội đồng giám khảo Gold Medal hoàn toàn tin tưởng Ken “đã xuất sắc trong tất cả mọi lĩnh vực”. Nhận xét của hội đồng giám khảo đã được trích lại: “Nhiều kiến trúc sư thảo luận về những vấn đề của công chúng, nhưng rất ít người có thể lái những thay đổi theo hướng tích cực và có tính chất xây dựng như Ken Maher. Là chủ tịch Ủy ban Tư vấn Thiết kế Đô thị của NSW Premier, ông đã giải quyết vấn đề cần dàn xếp những vấn đề phức tạp giữa chính phủ và các bên liên quan mật thiết một cách hiệu quả. Kết quả chính là chính sách quy hoạch môi truờng quốc gia SEPP 65, thể hiện sự tâm huyết của một kiến trúc sư với những dự án lớn về phát triển khu dân cư và việc đảm bảo các điều kiện về thiết kế cũng như tác động của công trình đến môi trường.

Bãi đỗ xe Fox Studios, Ảnh : Patrick Bingham Hall

Kỉ niệm lần thứ 49 và được trao giải hàng năm từ năm 1960, Gold Medal là giải thưởng kiến trúc cao nhất ghi nhận sự đóng góp nổi bật của các kiến trúc sư đã thiết kế hay điều hành những tòa nhà chất lượng cao, hay người đã tạo ra những công trình khác biệt đóng góp cho sự tiến bộ của kiến trúc. Những người được nhận giải gần đây là những kiến trúc sư có thành tích xuất sắc như Richard Johnson, Kerry Hill, Glenn Murcutt, Jørn Utzon, Gregory Burgess, Keith Cottier, Brit AndresenPeter Corrigan.

Học viện Nghệ thuật Quốc gia (NIDA), Ảnh: Patrick Bingham Hall

Những ngưởi Australia nổi tiếng ca ngợi giải thưởng của giáo sư Maher gồm có Thị trưởng Sydney Bà Clover Moore, nguyên giám đốc của NIDA- John Clark và người từng là quản lý NIDA- Elizabeth Butcher. Bà Moore đã nói: “Rất ít kiến trúc sư ở Sydnay có được nhiều công trình phục vụ cộng đồng đạt nhiều giải thưởng và các dự án đô thị như Ken Maher. Tôi đã biết Ken hơn 10 năm và đã quan sát với 1 sự ngưỡng mộ đối với hoạt động thầm lặng nhưng rất thông minh trong việc định hình cảnh quan văn hóa và phong cảnh tự nhiên của Sydney.” Bà cũng nói thêm rằng: ” Khi viết bài này, tôi nhớ về buổi nói chuyện của Ken Maher tại thành phố vào năm 2006, có tên Sustaining Sydney (Sydney bền vững), khi đó ông đã phác thảo ra 6 đề xuất cho việc tạo ra một thành phố bền vững trong tương lai. Tất cả 6 đề xuất đó hiện đã được xác định rõ ràng trong Tầm nhìn Sydney bền vững năm 2030 của thành phố. Kent có sự am hiểu vững vàng trong những vấn đề lớn trong việc định hình 1 thành phố và ông có ảnh hưởng đến các thành phố vượt ra khỏi giới hạn của một chuyên gia thông thường.”

Bể nơi Olympic phía Bắc Sydney, Ảnh: Patrick Bingham Hall

Đối với cống hiến của ông đối với tòa nhà NIDA, bà Butcher và ông Clark đã nói: “Không ai là không thừa nhận rằng đóng góp to lớn của Ken với kiến trúc Australia cũng như kiến thức và vốn hiểu biết vô cùng rộng lớn của ông. Tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng các thế hệ nghệ sĩ sân khấu trẻ hiện tại và tương lai được đào tạo tại NIDA đều nợ ông 1 lời cảm ơn. Chúng tôi tin tưởng rằng những người khác cũng sẽ đồng ý với nam diễn viên Ralph Fiennes, người đã miêu tả nhà hát Parade của Ken ở NIDA là một nhà hát tuyệt vời nhất mà ông từng được làm việc tại đó.”

Khi bình luận về thiết kế trụ sở ANZ mới tại Melbourne, Chris Carolan của Bovis Lend Lease đã nói: “Trong một vài năm gần đây, nhóm thiết kế và tôi ở Lend Lease đã rất vinh dự được cộng tác cùng Ken và Hassell trong một tòa nhà văn phòng mới cho ANZ ở bờ sông Yarra ở cảng Victoria của Melbourne. Dự án này sẽ đuợc hoàn thành vào cuối năm nay. Nó sẽ là một trong những tòa nhà văn phòng hiện đại nhất và được thân thiện nhất với môi trường. Đây sẽ là công trình tuyệt vời nhất của Ken Maher, đáp lại niềm tin mà nhiều người đặt nơi ông bởi khả năng đưa tham vọng của họ thành hiện thực.”

Nhà ga Olympic Park, Ảnh : Patrick Bingham Hall

Ken Maher đã làm việc tại Úc và nhiều nước khác thế giới từ sau khi tốt nghiệp trường đại học NSW vào năm 1970 với huy chương hạng nhất và Giải thưởng RAIA dành cho thiết kế. Sau đó ông tiếp tục hoàn thành khóa học sau đại học về kiến trúc cảnh quan và nghiên cứu về môi trường.

Các dự án của ông đã giành được những giải thưởng có uy tín gồm có giải thưởng học viện Merit, Canberra Medallion năm 1988, giải thưởng kiến trúc Lachlan Macquarie National năm 1995, giải thưởng Sir Zelman Cowen năm 1998, Sulman Medals năm 1998 và 2002, và giải thưởng cho kiến trúc sư cảnh quan của học viện quốc gia Australia. Ông đã giành chiến thắng trong nhiều cuộc thi trong nước và quốc tế, là một thành viên hội đồng giám khảo thiết kế được coi trọng và là giảng viên môn thiết kế. Hiện tại ông là giáo sư kiến trúc tại trường đại học NSW và thường xuyên có những bài viết về kiến trúc.

Thiết bị trụ sở Westpac Place, Sydney, Ảnh: Tyrone Branigan

Giáo sư Mahner sẽ đi vòng quanh Australia trong hơn sáu tháng sắp tới để nói về những trải nghiệm của ông và về kiến trúc. Chuyến đi này sẽ được người đồng sáng lập chính của Học viện, Thép BlueScope tài trợ. Ông sẽ nói chuyện ở Melbourne vào thứ hai 11/5; Canberra - thứ tư 13/5; Hobart - thứ năm 2/7; Adelaide - thứ tư 26/8; Perth - thứ năm 27/8; Brisbane -thứ hai 5/10; Darwin -thứ tư 7/10. , Ông sẽ trình bày bài diễn thuyết về AS Hook ở Sydney vào cuối tháng 10.

Một số công trình của Ken Maher:

NSW - Sydney: Bể bơi Olympic phía Bắc Sydney; Nhà ga Olympic Park; Học viện nghệ thuật quốc gia(NIDA); Quán cà fê và quảng trường Chifley; Bãi đỗ xe Fox Studios; Đường chuyển tiếp Liverpool/Parramatta; Ngân hàng Deutsche (của Foster and Partners); công viên công cộng Victoria, Zetland; quy hoạch tổng thể Cooks Cove, Sydney; Dự án thể hiện chiến lược Sydney bền vững 2030, Tòa nhà văn phòng, Phố 2 Fitzwilliam, Parramatta; Trang bị trụ sở Westpac, Sydney; Tuyến đường sắt Epping Chatswood; Parramatta Civic Place, Sydney.

ACT: Bệnh viện Bruce Psychiatric, Nhà hát Canberra.

SA: Quy hoạch tổng thế bờ sông Precinct; Tầm nhìn trung tâm Port Adelaide và Khung thiết kế đô thị, Kết cấu bờ sông Promenade Shade, Quy hoạch tổng thể trường đại học Adelaide, Tầm nhìn trung tâm Port Adelaide và Khung thiết kế đô thị.

VICTORIA: Trụ sở ANZ, Docklands.

QUEENSLAND: Khu đô thị Kelvin Grove, Ý tưởng thiết kế đô thị Northbank.

WA: Tháp BHP, Perth, Nghiên cứu thiết kế đô thị trung tâm văn hóa; Riverside Project, Waterfront Common và Hillside Precinct, Perth; Nhà ga Perth Metrorail William St & Esplanade, Perth

TRUNG QUỐC: Mở rộng thành phố Ningbo and Trung tâm thành phố mới; Cuộc thi thiết kế trung tâm triển lãm Thiên Tân;

ẤN ĐỘ: Trụ sở ANZ, Bangalore, Ấn Độ

SINGAPORE: 4 nhà ga dưới lòng đất, Singapore Circle Line

Bên cạnh những dự án này, HASSELL đã thực hiện những công trình chính ở tất cả các bang của Australia và có ảnh hưởng ở Châu Á.

Hội đồng giám khảo Gold Medal 2009, Chủ tịch học viện kiến trúc quốc gia Howard Tanner, Cựu chủ tịch Alec Tzannes, Richard Johnson, người giành Gold Medal năm 2008 cùng 2 kiến trúc sư nổi tiếng Elizabeth Watson-BrownGreg Howlett.

-->đọc tiếp...

TrinhGia architect latest post

Advertisement

Free Games www.roask.com Free web directoryVermeld Web Directory Winentrance.com Explore2india.com Genuineinfotech.com Globalcomputerbusiness.com Cybergiftindia.com
Dmegs Web Directorycommercial property to rent businesses for saleWebRoads Deep Links DirectoryPin By Directory Catalog Clonet

Blog Archive

 

Copyright 2008 All Rights Reserved TrinhGia architect group by TrinhChienThang Converted into Blogger Template by Bloganol dot com